Thánh Kinh Thần Học Viện » Một Chuyến Đi – Hồi ký

22
NOV
2013

Một Chuyến Đi – Hồi ký

Họ đang đi tìm nơi quê hương…họ ham mến quê hương tốt hơn tức là quê hương ở trên trời

Phương tiện di chuyển hiện đại ngày nay đem người ta lại gần nhau nhưng tiến bộ trên lãnh vực truyền thông lại khiến người ta xa nhau. Điện thoại có thể nghe tiếng, thấy hình, nghe lời nhắn, lên mạng và người ta dường như  không cần thiết  đi gặp  nhau nữa.

Tuy nhiên, một trong trách nhiệmï hầu việc Chúa là đòi hỏi phải đi. Đi xa, đi gần, đi ra, đi vào. Động từ “đi” chỉ đến hành động. Tất cả người được Chúa dùng đều là sẵn sàng ra đi và đi rất nhiều. Làm những chuyến đi xa dù mệt nhọc hay phải đối diện khó khăn nguy hiểm.

Mạng lệnh cuối cùng của Chúa Giê-xu là: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin-lành cho mọi người” (Mác 16:15). Chúa Giê-xu đã nêu gương khi Ngài “thức dậy sớm đi vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện tại đó”.  Rồi Ngài giục giã các môn đồ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, trong những làng xung quanh đây, để ta cũng giảng đạo ở đó nữa, vì ấy là cốt tại việc đó mà ta đã đến” (Mác 1:35-36). Các môn đồ của Chúa đều là những người vâng lời Chúa ra đi, nhất là sứ đồ Phao-lô. Các cuộc hành trình truyền giáo của ông đánh dấu nét đặc thù chức vụ của người phục vụ Chúa. Trước giả thư tín Hê-bơ-rơ xác định kẻ có đức tin là người “xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất..họ đang đi tìm nơi quê hương…họ ham mến quê hương tốt hơn tức là quê hương ở trên trời” (Hê-bơ-rơ 11: 13-16).

Tạ ơn Chúa ban cho tôi chức vụ hầu việc Chúa khá lâu. Mỗi khi nhìn lại các chặng đường đã qua tôi chỉ biết cúi đầu tạ ơn Chúa vì có nhiều cơ hội lên đường “đi” lo công việc Chúa. Hôm nay ngồi lại viết các lời này, tôi xin lược thuật chuyến đi mới nhất của chúng tôi. Chuyến đi này rất đặc biệt và thú vị. Đặc biệt vì là một chuyến đi lâu nhất, 40 ngày đêm; thăm viếng nhiều nơi nhất, từ Miền Bắc đến Miền Nam Việt Nam và thỏa lòng nhất vì gặp thân nhân và bạn đồng lao và có nhiều người tiếp nhận Chúa.

Khởi hành chuyến đi.

Sau kỳ Hội Đồng Giáo Hạt lần thứ 38 tại Viện Đại học Chapman. Tôi và nhà tôi lên đường đi đến Hà-nội. Dù đã đến thủ đô này nhiều lần, chúng tôi vẫn thấy có sự thu hút lạ kỳ nào đó khiến chúng tôi vui thích mỗi khi có cơ hội viếng thăm nơi này. Tôi nhớ lần đầu tiên đến Hà-nội với các vị lãnh đạo của Tổng Hội Truyền Giáo Phước Aâm Liên Hiệp vào năm 1992. Hơn 20 năm qua Hà-nội ngày nay đã thay đổi rất nhiều.

Tôi vẫn còn nhớ các hình ảnh của hai mươi năm trước. Hà nội đã tồn động các nét cổ kính của 4000 năm văn hiến! Nhưng Thăng long thành cỗ đó đã hấp dẫn những người như tôi qua những điểm nỗi tiếng của Ba Mươi Sáu phố phường, Chợ Đông Ba, Chùa Một Cột hay dòng sông Hồng… Dĩ nhiên lần đi này chúng tôi đảm đang một trách nhiệm quan trọng của Thánh Kinh Thần Học Viện. Ban giáo sư sẽ dạy hai tuần và sau đó sẽ cử hành Lễ Tốt Nghiệp đầu tiên và cũng là lịch sử của chương trình giáo dục Thánh Kinh và Thần Học tại đây.

Lần này có ba giáo sư của Viện đến dạy Lời Chúa trước Lễ Tốt nghiệp. Chúng tôi nhìn đến các sinh viên va tôi tớ Chúa theo học với niềm hân hoan tràn ngập khi ngồi chung một phòng, ăn chung một mâm và trao đổi kiến thức và kinh nghiệm. Tôi cảm thấy lằn ranh của thầy trò, của chức vụ chìm mất đi trong thung lũng của tiếng gọi huyền nhiệm từ nơi vị Thầy tôn kính là Chúa Cứu Thế Giê-xu khiến cho tất cả trở nên môn đệ của Người.

Thật có gì vui thỏa cho bằng được ngồi dưới chân Chúa để được Thánh Linh dạy dỗ. Một tuần trôi qua nhanh chóng dù mỗi ngày ngồi chung nhau trong một phòng khá hẹp và nhiệt độ Mùa Hè ở Miền Bắc cũng không thông cảm với các người có tuổi này. Dầu vậy, chúng tôi kinh nghiệm được Lời Chúa thật ngọt ngào và tươi mát tâm linh.

Thăm Hội thánh.

Tuần lễ thứ nhì chúng tôi lên đường đi thăm Hội thánh Móng Cái là tuyến đầu của Miền Đông Bắc giáp giới Trung quốc. Tên Móng Cái có nghĩa là “Nền móng chính yếu” của vùng này.  Một kinh nghiệm mới là chúng tôi đi “xe buýt có giường nằm” với ThầyTruyền Đạo Nguyễn Dzu, đã từng đến học tại Viện Anaheim và thầy đã chịu khó lặn lội đến thăm trong lần chúng tôi viếng Hà Nội hai năm trước. Cùng đi có em của thầy là Mục sư NC Nguyễn Kim Cương. Hội thánh này là quê hương và cũng là nơi hầu việc Chúa của thầy.

Sau một đêm đi đường, các hành khách tìm giấc ngủ không khó vì có lẽ đã quen, còn tôi và nhà tôi cứ chập chờng vì  không quen ngủ chung với đông người. Tuyến đường này rất yêu chuộng vì có nhiều du khách khắp nơi đi ra Vịnh Hạ Long, Cát Bà cũng như ra vùng biên giới Trung quốc nên đường xá khá tốt.

Sau một đêm trên xe, cuối cùng chúng tôi đến Móng Cái. Thành phố này làm chúng tôi ngạc nhiên vì khá tân kỳ. Đường xá rộng rãi, sạch sẽ so với Hà Nội 36 phố phường chật hẹp và đông dúc. Đặc điểm của thành phố này là nằm sát với biên giới Trung quốc và ngăn cách chỉ một dòng sông tương đối nhỏ mà phía bên kia là một thành phố thuộc Trung quốc rộng lớn cũng không kém.

Được đưa đến nhà thân sinh của hai thầy Truyền đạo là ông bà cụ Nguyễn Như. Hai cụ là trái đầu mùa và nay vẫn là cột trụ của Hội thánh này.  Thật cảm động thì thấy hai cụ vừa sáng sớm, mà quần áo tươm tất ra đứng sẵn nơi cửa trịnh trọng tiếp đón chúng tôi.  Mỗi lần ra đến Miền Bắc, tôi thường nhắc nhà tôi là phải nhớ gọi người lớn tuổi bằng “Cụ” nhé. Mà cũng buồn cười khi chúng tôi gọi ông bà bằng “cụ” thì ông bà cũng gọi tôi bằng “cụ” vì  khoảng tuổi gần nhau. Thế là tôi lại được thêm một “chức” nữa rồi! Thỉnh thoảng khi gặp Mục sư Nguyễn Đăng Minh ở Giáo Hạt, chúng tôi trêu nhau chào “Thưa cụ” ạ! rồi cả hai đều cùng cười vui vẻ! Nhưng bây giờ tôi được gọi là “Cụ thật” thì trong bụng muốn “mếu đi” thôi vì mau quá mới ngày nào giờ đây đã “thất thập”!

Tất cả người trong gia đình này đều có lòng yêu mến Chúa. Ân cần tiếp khách, vui vẻ thăm hỏi nói lên tâm tình đó. Có được ba người con dâng mình hầu việc Chúa, hai cụ vui sướng và hãnh diện khi đề cập đến vinh hạnh này. Ngày Chúa nhật 21/7/13 đó, tôi có dịp giảng hai lần, buổi sáng và buổi tối. Hội thánh có khoảng hơn 100 người lớn nhỏ họp trên tầng lầu thứ ba của gia đình suôi gia của ông bà Cụ Như. Dù chưa có nhà thờ nhưng sinh hoạt thờ phượng rất chu đáo:  in chương trình,  ban nhạc,  hình rọi và các con cái Chúa ham thích nghe Lời Chúa.

Buổi trưa hôm đó có thì giờ sinh hoạt cộng đồng nơi bờ biển, từ đó chúng tôi nhìn ra thấy phần đất Trung quốc ẩn hiện xa xa và dưới bãi biển Hội thánh cử hành thánh lễ báp têm cho một số tân tín hữu. Thật ý nghĩa. Chúng tôi có dịp đến viếng một người tín hữu tin Chúa chưa đầy một năm, theo lời thầy Truyền đạo kể. Chị này tên Ngà có một cửa hàng bán nước trái cây sinh tố. Dù mới tin Chúa chỉ được gần một năm thôi, chị đã đưa dắt gần 30 người tiếp nhận Chúa, Khi nghe thuật lại thể nào chị tin Chúa chúng tôi thấy được “quyền phép của Tin lành”. Chị nói cách say sưa thể nào chị có đức tin và quyết định việc dẹp bỏ  hình tượng.

Trên tầng lầu ba của căn phố bằng gạch đẹp đẽ khang trang của chỉ là ngôi miếu đầy dẫy hình tượng. Chị đã tốn công sức và của cải biết bao cho việc phụng sự các hình tượng này. Nghe nơi nào có hình tượng quý, mới lạ chị đều cố gắng mua đem về. Chị kể là nhờ lòng kiên nhẫn của thầy Truyền Đạo Nguyễn Dzu cho nên chị đã gặp Chúa. Thầy thường đến tiệm thăm và giải nghĩa Lời Chúa cho chị.  Chị nghĩ tại sao có người quan tâm đến linh hồn của chị đến thế. Rồi chị bằng lòng đến buổi thờ phượng và cuối cùng chị tiếp nhận Chúa. Chẳng những Chúa ban sự cứu rỗi cho chị mà còn giải cứu chị khỏi sự thờ cúng hình tượng. Chị cho biết chính tay chị đã đập bể các hình tượng bằng sành và loại bỏ luôn các tượng chạm bằng đồng, bằng bạc. Chính tay chị mang từ trên lầu cao xuống ném bỏ đi. Chị phải dọn dẹp mấy hôm mới xong, tay chị bị đau nhức mấy hôm mới hết! Khi nghe chị nói và nhìn thấy đôi mắt chị tôi thấy còn phản phất một vài nét thâm sâu của ảnh hưởng quyền lực tối tăm nào đó. Nhưng nụ cười tươi vui sau đó đã lấn áp khi chị nói xác chứng quyền năng đắc thắng của Chúa. Ha-lê-lu-gia!

Thăm Hội thánh bên kia biên giới.

Một ấn tượng không quên của chuyến viếng thăm này là chúng tôi được đi thăm một Hội thánh Trung quốc bên kia biên giới. Tôi được cho biết là bên kia cây cầu nối liền giữa hai nước Việt Hoa có một Hội thánh người Hoa mà người con rễ của Cụ Như thường qua lại buôn bán  bên đó.

Tôi tỏ ý muốn qua thăm vì chuyến đi Trung Quốc của chúng tôi vào đầu năm 2013 đến Bắc kinh và Thượng Hải, chúng tôi chỉ thấy hai nhà thờ Tin lành mà không ghé thăm được vì phải đi theo đoàn người du lịch. Nay tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Cũng may là chiếu khán nhập cảnh Trung quốc của chúng tôi vẫn còn hiệu lực cho nên việc qua biên giới Trung quốc không gì trở ngại.

Người anh rễ của hai thầy Truyền đạo  hướng dẫn chúng tôi đi bộ qua cây cầu dài khoảng 150 mét. Giữa cầu là một lằn ranh biên giới của hai nước. Hôm đó trời khá nóng bức chúng tôi qua hai trạm kiểm soát thông hành. Đến trạm người Hoa họ nhìn thông hành của tôi và hỏi bằng Anh ngữ: “You” đi bao lâu, ở nhà ai…? Tôi trả lời ngắn gọn, anh đóng dấu vào sổ thông hành trao lại cho tôi và nói: “You speak English very well”. Tôi tức cười vì tôi có nói chỉ có mấy chữ thôi mà được “anh Ba” khen cũng mừng hí hửng trong bụng!

Khi qua cửa khẩu thời tiết oi-bức tôi định gọi một taxi để đi thì anh hướng  dẫn tôi đến một chiếc xe hơi duy nhất đang mở máy chờ. Anh giới thiệu với người cầm lái về tôi và chúng tôi được bước vào một xe Van có máy lạnh rất mát mẻ, rộng rãi. Tạ ơn Chúa!

Xe chạy quanh co khoảng chừng 15 phút trên đường qua các phố phường đông đúc, cuối cùng xe dừng lại trước một dãy phố bán đủ mọi mặt hàng. Chúng tôi được hướng dẫn lên lầu ba của một cửa hàng mà bên dưới bán bàn ghế. Người hướng dẫn cho biết các bàn ghế này nhập cảng từ Việt Nam.

Chúng tôi được vị Mục sư trẻ, đẹp trai cao lớn tiếp đón ân cần hơn điều tôi nghĩ. Tôi được giới thiệu tên ông là Quan Ân Từ. Thật ra tôi lo vì không biết dùng ngôn ngữ nào khi sang đây. Tôi hy vọng gặp người nói được tiếng Anh, chớ tiếng “Tàu” tôi đành chịu. Tạ ơn Chúa cho có vị chấp sự có vợ là người Việt Nam nói tiếng Việt khá làm thông ngôn cho nên tôi vui mừng và an tâm.

Cuộc hàn huyên bắt đầu bằng các lời thăm hỏi thường lệ về Hội thánh, gia đình, cuộc sống.. nhưng lần lần tôi đề cập đến một vấn đề khiến ông Mục sư trẻ và các chức viên của Hội thánh này vô cùng thích thú. Đó là tôi cho biết đến khải tượng “Back To Jerusalem” của Hội thánh Trung quốc. Mục sư 32 tuổi này sung sướng cho biết Hội thánh ông là một hội thánh nhỏ miền biên giới được một vị Mục sư từ Hoa Kỳ đến thăm mà còn quan tâm đến khải tượng của Hội thánh Trung Quốc. Khải tượng này Hội thánh Trung Quốc đang âm thầm theo đuổi trong nhiều năm qua khiến ông cảm kích sâu xa.

Khải tượng “Back to Jerusalem” là một phương lược mà một số tôi con Chúa ở Trung Quốc tin quyết rằng khi Tin-lành đã phát xuất từ Jerusalem sang vùng Tiểu Á, đến Aâu châu. Từ Aâu châu đạo Chúa truyền sang Mỹ châu. Từ Mỹ châu truyền sang Á-châu mà kết quả hiện nay số tín hữu Tin lành ở Phi-châu và Á châu nhiều hơn Aäu châu và Mỹ châu!

Tín hữu Trung quốc tin rằng khi đạo Chúa từ Trung Quốc truyền sang các nước Hội giáo như Á-phủ-hãn, I-răn, Irắc, Sy-ri và trở lại Jerusalem thì : Tin lành rao giảng khắp đất và làm chứng cho muôn dân Chúa sẽ tái lâm. Với khải tượng này một số mục sư và tín hữu trẻ cảm động lên đường “đi” qua các nước đầy dẫy Hồi giáo cực đoan (Radical Islam). Khi họ giả từ người thân trong tinh thần vĩnh biệt như là họ sẽ không còn gặp lại. Nhiều cặp vợ chồng trẻ được cảm động ra đi chấp nhận rời nhau, đi khác đoàn để không bị vướng bận tình cảm có thể ngăn trở công việc Chúa!  Họ chấp nhận mọi hiểm nguy, tù đày hay ngay cả sự chết. Họ đang âm thầm làm công việc này, ít người biết được. Họ cho biết phần đất này giáo sĩ da trắng không thể len lỏi vào được, chỉ có người Trung quốc mới có thể thực hiện mà thôi.

Khi nghe tôi  đề cập đến hoạt động này ông Mục sư  ngạc nhiên lẫn thích thú đến nỗi ông tha thiết mời tôi ở lại qua đêm. Ông cho biết ông sẽ lo khách sạn cho chúng tôi ở và thức ăn đầy đủ cho chúng tôi để có dịp hàn huyên thêm về công việc Chúa. Chúng tôi cảm kích và vui sướng khi thấy tinh thần và lòng mến mộ của những người cùng niềm tin dù khác nhau quá nhiều về ngôn ngữ và văn hoá.

Tôi vui vẻ cám ơn và cho biết ngày mai lúc 9 giờ chúng tôi phải về Hà-nội để chuẩn bị cho Lễ Tốt nghiệp mà tôi cũng chưa dịp gặp Ông bà Mục sư Hồ Hiếu Hạ và Mục sư Hồ Thế Nhân như đã dự kiến. Ông Mục sư liền tiếp, không sao, chúng tôi hứa sẽ đưa chúng tôi ra bến xe đúng 9 giờ miễn là chúng tôi bằng lòng ở lại với họ một đêm! Một lần nữa tôi phải buộc lòng cho biết tối đêm đó là Chúa nhật tôi đã hứa giảng cho Hội thánh Móng Cái. Cuối cùng ông thông cảm chương trình bận rộn của tôi và mời chúng tôi đi dùng bữa.

Thật ra “cơm Tàu” không gì hấp dẫn chúng tôi nhưng thấy cảm tình quý hoá của vị Mục sư chúng tôi hăng hái đi ăn và trời cũng đã xế chiều rồi. Nhà hàng chúng tôi đến là nhà hàng khá rộng lớn và thuộc hạng sang trọng nằm bên cạnh khách sạn loại 3-4 sao! Ông chỉ đó là khách sạn ông sự định mướn cho chúng tôi nếu có thể lưu lại. Tôi mỉm cười và hẹn một cơ hội khác. Thức ăn hôm đó khá đặc biệt. Nếu được một người Trung Quốc mời ăn một nhà hàng Tàu thì tôi dám bảo đảm là “ngon lành”. Hôm đó nhà tôi bị đau răng, tôi cũng hơi ê răng mà không biết tại sao, nhưng thức ăn quá ngon và chủ mời cứ “đươm” thức ăn cho khách tới tấp, miệng cười tay với. Chúng tôi có được một bữa ăn thật vui vẻ mặc dầu thực khách đôi bên chỉ mới gặp nhau lần đầu. Quả là trong Chúa mới được niềm vui như thế.

Sau đó, chúng tôi phải chia tay. Bắt tay nhau năm lần, bảy lượt. Tôi tưởng là xong nên chúng tôi lên xe trở lại cầu nối liền hai biên giới. Nhưng Mục sư trẻ và vị chấp sự lại chạy xe theo đưa chúng tôi đến tận đầu cầu. Sau khi chụp thêm một vài ảnh lưu niệm nữa, chúng tôi bước lên gần hai mươi tam cấp, nhìn xuống thấy vị mục sư và chấp sự còn đứng chờ vẫy tay lần cuối trước khi chúng tôi khuất đi mới chịu ra về. Trên đường về lòng tôi miên man nghĩ đến tình cảm của người thật ở trong Chúa có sắc thái quá tuyệt vời mà không thể tìm ra trong xã hội của người đời.

Trên đường về hôm sau chúng tôi quyết định đi xe “ngồi” chuyến ban ngày để nhìn quang cảnh vùng này của Miền Bắc và nghĩ rằng có lẽ đây là lần đầu mà cũng là lần cuối được viếng thăm non sông gấm vóc của nước Việt thân yêu.

Về lại Hà-nội

Chúng tôi gặp Ông bà Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Mục sư Hồ Thế Nhân ở chung một khách sạn. Hai vị này dạy một buổi cho nên chúng tôi dành thì giờ đi tham quan vài nơi với ông bà Mục sư Hạ. Hồ Tây là địa điểm khá hấp dẫn cho nên chúng tôi cùng đi taxi đến đó tham quan và ăn trưa bên bờ hồ. Món ăn nổi tiếng tại đây là “Bánh tôm hồ Tây”. Lần trước có dịp đến nơi đây rồi cho nên chúng tôi “đãi” tôi tớ Chúa thưởng thức.

Sau đó chúng tôi đi dạo bờ hồ. Hồ Tây phân cách Hồ Trúc Bạch  bằng một con đường rất đẹp. Xe cộ tấp nập dù đó là giờ ban trưa. Điều tôi muốn ghi nhận ở đây là khi ngồi lại để uống nước dừa bên cạnh bờ hồ chúng tôi nhìn qua thấy hai ông bà cũng ngồi uống nước. Trông qua có vẽ là khách Việt kiều cho nên chúng tôi ngõ lời thăm hỏi. Ông bà vui vẻ cho biết từ Paris, nước Pháp về thăm quê hương. Chúng tôi hỏi có biết nhà thờ Tin lành bên đó không?  Ông bà cho biết đã có một lần tin Chúa nay không còn đi nhóm lại. Sau những lời khuyên lơn tôi mời Mục sư Hạ cầu nguyện cho họ và chia tay trong một buổi trưa nắng ấm.

Cuối tuần đó là Lễ Tốt nghiệp lần thứ nhất của Thánh Kinh Thần Học Viện tại Hà-nội. Ai nấy đều nô nức chuẩn bị. Dù chúng tôi cũng có vài kinh nghiệm tổ chức ở Hoa Kỳ hay vài lần ở Bangkok, Thái lan, tuy nhiên mỗi lần như thế đối với tôi đều có cảm giác vui mừng thích thú cá biệt. Sau gần ba năm tới lui cùng với các giáo sư của Viện đến nơi kinh thành cổ kính này, tôi kể như là một đặc ân hiếm có  Chúa ban cho nên mới có thể thực hiện một chương trình giáo dục Thần Học như thể này! Tạ ơn Chúa đã ban cho các khoá học trong suốt các năm qua được bình  an phước hạnh. Hôm nay đến ngày hoàn tất một học trình quan trọng bởi ơn sủng diệu kỳ của Chúa, lòng tôi tràn dâng niềm vui khôn tả.

Tại quê hương mến yêu, hôm nay một Lễ Tốt nghiệp được tổ chức với đầy đủ nghi thức và áo mão cho Ban giáo sư và sinh viên, thật là vượt mọi điều mong ước. Tuy nhiên, bởi ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, buổi Lễ diễn ra rất trang trọng với sự chứng kiến của hầu hết các đại diện Hội thánh Miền Bắc và Ban Tôn giáo chính phủ tham dự suốt buổi lễ cùng với những lời phát biểu và chúc mừng tốt đẹp. Thông tin này được mạng của Hội thánh Miền Bắc đưa lên và những người có tinh thần xây dựng Hội thánh ở quê hương đều vui mừng khấp khởi. Sau đó, chúng tôi vô Saigon tham dự bữa ăn thông công với các tôi tớ Chúa và sinh viên đã từng theo học chương trình của Viện tổ chức tại Thái-lan và Anaheim Hoa kỳ được nghe phản ứng thuận lợi của khắp nơi trên đất nước.

Trước khi vào Miền Nam chúng tôi có dịp tham quan vùng sơn cước Sapa, cũng là thắng cảnh nổi tiếng Miền Tây Bắc, Việt Nam. Truyền đạo Phạm Bá Hạnh vừa tốt nghiệp cử nhân xong lên đường hướng dẫn chúng tôi. Lần này chúng tôi đi xe lửa theo mạn Hà-nội – Lào-cay. Mạm đi này rất hấp dẫn du khách. Địa điểm  này cũng nằm sát biên giới Trung quốc. Chúng tôi đến Lào cay ra nhìn qua bên kia bờ sông cũng có thành phố của Trung quốc  gần giống như Móng cái.

Xe lửa đỗ tại ga Lào-cay và chúng tôi lấy xe lên Sa-pa bằng đường lên núi khoảng 45 phút với cảnh đẹp hoang sơ tuyệt đẹp. Vùng này đa số là người Dao và một số là Hmông cư trú. Họ làm ruộng bực thang trên những cánh đồng dọc theo triền núi tạo nên cảnh nên thơ và quyến rũ. Mùa lúa chín lá vàng óng ảnh dưới ánh mặt trời; mùa trồng lúa lá lúa xanh-rì  chạy dài mút mắt tạo nên một cảnh trí thiên nhiên màu xanh dịu mát tuyệt vời!

Khi xe đến Sa-pa nằm trên triền đồi tuyệt đẹp. Thầy Truyền đạo đón thêm một Truyền đạo người Dao tập sự ở Lào cay cùng đi với nên chúng tôi thuê hai phòng khách sạn rất tiện nghi. Đa số là khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Sau khi nghi ngơi chúng tôi đi ra thăm khu phố. Thành phố nào cũng có con đường chính của nó, Sa-pa cũng thế. Tuy nhiên Sa-pa đẹp hơn vì sắc thái của dân thiểu số tại đây. Họ ăn mặc theo lối truyền thống đầy màu sắc và nhất là các em gái nhỏ khoảng  chín, mười tuổi,  xinh xắn trong bộ áo màu sắc trông dễ thương làm sao! Khi gặp chúng tôi các em bu lại bán những món đồ thêu đan, các ví nhỏ hay khăn quấn đầu. Tiếng mời hàng của các em khó ai có thể quên được:,”Bà ơi! bà mua dùm con đi bà”. Nhìn đôi mắt đen láy, gương mặt ngây thơ xinh đẹp đó khó ai có thể từ chối. Nhà tôi hay thương người bằng lòng mua một vài món mà thực sự chẳng cần cho lắm, nhưng muốn giúp các em này. Nhưng khi thấy có người mua thì hàng chục em khác chạy đến xin mua hàng dùm khiến chúng tôi buộc phải vội bước đi.

Ngày hôm sau, chúng tôi có dịp thăm Thác Bạc, một thác nước  rất đẹp và hùng vĩ  ở cách thành phố khoảng 40 phút. Nơi này có các chòi tranh bán thức ăn và đồ lưu niệm cho du khách. Thác này có lối đi lên và xuống rất thuận tiện và vững chắc. Tên “Thác Bạc” là vì nước chảy xuống tung lên màu trắng xoá. Khi bước lên khoảng giữa chiều cao của thác thì có một cầu vòng vững chắc bắc sang phía bên kia dùng làm đường khi xuống mà không làm chậm bước người đi lên. Ngoài ra, có núi Hàm rồng, có nhà thờ Công giáo tọa lạc ngay giữa thành phố. Đặc biệt có khu nhà lầu kiến trúc theo lối Âu châu giống như các nhà nghỉ mát của người Pháp đã xây ở Dalat.

Nhưng một kinh nghiệm đáng nhớ nhất là chúng tôi viếng thăm Hội thánh người Dao ở trong một làng nằm trong thung lũng vệ đường. Chúng tôi đi xuống trên con đường quanh co trải xi-măng, rồi quẹo trái xuống một dòng suối chảy rất mạnh và nguy hiểm. Các anh em dân tộc thi nhau lấy ván làm cầu tạm để chúng tôi đi qua. Cám ơn Chúa chúng tôi đi qua bình an. Dầu vậy,  anh em phải chọn một lối khác cho chúng tôi khi ra về. Thầy Truyền Đạo Hạnh là người có tinh thần truyền giáo, cho nên thường đến đây để chăm sóc và huấn luyện các Trưởng nhóm  (Quản nhiệm) của các Hội thánh vùng này. Hôm đó dù là ngày Thứ hai, khi nghe chúng tôi đến có khoảng 70-80 người nhóm họp tại một nhà thờ nhỏ đơn sơ. Đa số là người lãnh đạo Hội thánh trong vùng . Được tin chúng tôi đến thăm, các anh em này xa gần lặn lội đến đây để gặp chúng tôi.

Tôi được mời giảng dù khi đi Thầy Truyền đạo không nói rõ là có buổi nhóm thờ phượng. Dầu vậy, tôi rất vui bắt lấy dịp tiện này. Thầy Truyền Đạo Hạnh chắc đã sắp đặt cho nên đã đem một TĐ tập sự tên là Ri-êu đi cùng giúp phiên dịch bài giảng cho tôi. Thầy TĐ tập sự này học đến lớp 10 hay 11cho nên khá giỏi tiếng Việt. Khi nhìn đến các anh em người dân tộc ngồi trên ván gỗ kê lên cao hơn mặt đất một chút trong một nhà thờ gỗ đơn sơ, tôi nhớ đến các anh em người Kơho ở Dalat. Họ sống đơn sơ nhưng lòng khao khát Lời Chúa mãnh liệt. Trước khi lên giảng, Thầy Hạnh nói với tôi: xin Mục sư có thể giảng lâu bao nhiêu cũng được, hai ba tiếng đồng hồ họ vẫn muốn nghe. Dầu vậy bài giảng tôi dài khoảng một tiếng đồng hồ thôi gồm cả phần phiên dịch. Sau đónhiều người lên tòa giảng bày tỏ nhu cầu riêng tư hay chức vụ xin tôi cầu nguyện. Tấm lòng biết nhờ cậy Chúa và niềm tin chân thành thể hiện rõ ràng nơi đây.

Chúng tôi ra về mang theo hình ảnh đẹp của các tín hữu dân tộc này. Hôm sau chúng tôi lấy xe lửa đem về đến Hà-nội lúc 5 giờ sáng. Trở lại khách sạn lấy đồ và ra phi trường bay về Saigon. Ông bà Mục sư Hội trưởng Nguyễn Hữu Mạc tiển chúng tôi tại cửa khách sạn và hứa sẽ cầu nguyện cho nhau. Tạ ơn Chúa đã chúc phước cho công việc Chúa ở Miền Bắc Việt Nam hiện nay có thêm hàng trăm ngàn tín hữu người dân tộc xin gia nhập với Tổng Hội. Vì thế nhu cầu đào tạo trở nên cấp thiết và Thánh Kinh Thần Học Viện đã góp phần xây dựng Hội thánh Miền Bắc nơi quê nhà chúng ta.

 

 

Về Saigon

Một buổi họp mặt với quý tôi tớ Chúa và cựu sinh viên Thánh Kinh Thần Học Viện được tổ chức tại Saigon chiều ngày 1 tháng 8 tại nhà hàng trên lầu thương xá Tax. Buổi họp mặt có sự hiện diện  của ông bà Mục sư  Phan Vĩnh Cự, Phó Hội trưởng TLH và ông bà Mục sư Nguyễn Hữu Bình, Thủ quỹ TLH  và các cựu sinh viên theo học ở Bangkok và Anaheim. Đến từ Hoa kỳ có ông bà Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Mục sư Hồ thế Nhân và ông bà Mục sư Nguyễn Anh Tài. Sau lời hoan nghênh và chào thăm của Mục sư Hồ thế Nhân, Mục sư Nguyễn Anh Tài xin mỗi người giới thiệu tên họ mình và chức vụ trong Hội thánh. Có trên 50 người tham dự nói lên vài lời cho thấy mỗi sinh viên đều được Chúa sử dụng cách tốt đẹp trong công trường thuộc linh của Ngài. Mục sư Phó Hội trưởng cầu nguyện và câu chuyện hàn huyên trở nên thân mật trong cơ hội quý báu này.

Chuyến tham quan.

Sau đó chúng tôi lên đường tham quan một số nơi mà chúng tôi chưa có dịp viếng thăm trong các lần về quê hương. Nhất là nhà tôi chưa biết miền Trung ngoài Nha-trang là nơi đã từng theo học Lời Chúa và trở lại hầu việc trong thời gian ngắn. Còn tôi từ ngày rời đất nước 38 năm trước tôi chưa có dịp trở lại thăm trường cũ nơi xưa là nơi phục vụ cuối cùng của chúng tôi năm 1975.

Phương tiện tốt và phù hợp với chúng tôi là theo đoàn du ngoạn của Saigon Tourist. Tôi sẽ không thuật chi tiết của chuyến đi này, tôi chỉ chọn một địa điểm  ý nghĩa liên quan đến công việc Chúa mà thôi.

Như chúng ta biết Việt nam ngày nay mở rộng cho du khách, nhất là kiều dân hải ngoại. Thời điểm chúng tôi chọn đúng vào cơ hội này cho nên mọi sự xảy ra khá thoải mái và tốt đẹp.

Bắt đầu chuyến đi từ Saigon ra Phan thiết đến Mũi Né là nơi có tiếng du khách yêu chuộng. Các khu khách sạn cạnh bờ biển, các khu “resorts” sạch sẽ thơ mộng không kém gì các nước khác nói lên sự tiến bộ về lãnh vực thương mại này của đất nước ta. Câu chuyện của nhà thơ Hàn Mặc Tử, vườn cây trái thanh long và ý nghĩa địa danh Phan-rang được người hướng dẫn giải nghĩa cách hấp dẫn. Tuy nhiên địa điểm mà chúng tôi mong đợi viếng thăm là Nha-trang. Dù chưa có dịp ghé thăm sau 38 năm, chúng tôi có nghe các tôi tớ Chúa thuật lại sự thay đổi lớn tại thành phố này.

Trước khi đến đây, tôi đã tiếp xúc được với Bác sĩ Đinh Nhật Rol cũng là cựu sinh viên TKTHV theo học tại Thái lan. Do đó, sau khi theo đoàn tham quan một số thắng cảnh nhất là bờ biển Nha trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới được UNESCO thừa nhận. Tôi hẹn gặp ông để đi thăm vài nơi mà tôi mon gước nhất là Thánh Kinh Thần Học Viện ở Hòn chồng.

Sau khi theo phái đoàn tắm nước khoáng ở Vĩnh Ngọc, Bác sĩ  Dinh Nhật Rol đem xe Hyundai đưa tôi đến Hòn chồng. Ngày nay tôi không nhận ra đường xưa lối cũ được nữa vì phố phường, đường xá đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của khu vực này. Khi xe dừng lại, tôi đứng ngay ngã đường trước Thần Học Viện cũ. Tôi vội chụp vài hình ảnh của tòa nhà ba tầng có lễ đường, lớp học và văn phòng Cụ cố Mục sư Viện trưởng Ông văn Huyên mà bên cạnh là văn phòng làm việc của tôi khi tôi giữ chức giáo sư tại nơi này. Nhìn lên nhà thờ của Viện  nay bị rào kín chỉ thấy được mặt tiền cũ kỹ và lầu chuông mất hình thập tự giá! Bên kia đường là hai ngôi nhà giáo sư bị rào cao che phần dưới, nằm bên dưới dãy phòng ở của nữ sinh viên. Nhìn cảnh cũ lòng tôi chua xót. Những hình ảnh đẹp, sinh động của ngày nào không còn nữa chỉ tồn động một thay đổi, một đổi thay ngan trái của cuộc đời.

Nha-trang – Vĩnh Phước.  Tôi được đưa đến viếng nhà thờ Vĩnh Phước. Nhà thờ rộng lớn và đẹp quá. Khi bước vào khuôn viên có hai chú chó nhỏ dễ thương sủa vang liên hồi. May mà chúng bị cột, bằng không có thể ống quần tôi khó còn nguyên vẹn lắm.  Các chú chó này rất trung tín giữ nhà và chắc sẽ không dung tha người “xa lạ” như tôi.

Vào ngồi phòng khách chờ Mục sư Phan văn Cử, ông bà cũng là cựu sinh viên của Viện Anaheim.  Bác sĩ Đinh Rol gọi điện thoại tìm ông Mục sư, cuối cùng tôi thấy  Mục sư Cử từ trên lầu chạy xuống, tay bắt mặt mừng vì  được gặp lại nhau sau bao năm xa cách. Ông ôm (hug) chặt tôi như một người thân quý lâu ngày gặp lại và xin lỗi xuống trễ vì có buổi cầu nguyện với các chấp sự trên lầu. Chúng tôi cảm thông và hàn huyên thân mật. Được biết bà Mục sư đi huấn luyện xa nên chúng tôi không được gặp. Sau cùng chúng tôi hẹn nhau dùng cơm tối tại một nhà hàng cạnh biển Hòn Chồng.

Lấy thì giờ còn lại trong ngày chúng tôi thăm nhà thờ Nha-trang. Ngôi nhà thờ rộng lớn và đẹp quá! Tạ ơn Chúa. Tôi nhớ lần cuối  khi Mục sư  Lê Đình Tố làm quản nhiệm mời tôi giảng Lễ Phục sinh tháng ba, năm 1975. Tôi đã hứa nhưng cuối cùng phải thất hẹn vì lo di tản vào Vũng Tàu trong những ngày cuối ly loạn của đất nước. Bước vào tư thất được Bác sĩ  Đinh Rol giới thiệu, tôi gặp Mục sư Quản Nhiệm Phạm Sính, đến từ vùng Pleiku bảy, tám tháng nay. Tôi có cảm tình ngay về thái độ nhẹ nhàng hiếu khách. Tôi chưa bao gặp ông nhưng ông tỏ vẽ đã quen biết tôi. Câu chuyện hàn huyên trở nên thân mật. Sau khi thăm hỏi về công việc Hội thánh, gia đình và chức vu,ï ông hướng dẫn tôi lên nhà thờ nhìn thấy bên trong rất trang nghiêm, thu hút và đầy ấn tượng. Cuối cùng ông Mục sư tâm tình cho tôi biết ông bà đến đây chưa lâu nên vẫn còn nhiều lo lắng công việc lớn của nhà Chúa. Ông xin tôi cầu nguyện cho chức vụ của ông. Lời xin cầu nguyện rất chân thành, và chúng tôi cầm tay nhau thiết tha nài xin Chúa đồng công và chúc phước cho chức vụ của tôi tớ Chúa tại đây. Sau khi chia tay ra về tôi cảm thấy các tôi tớ Chúa ở quê nhà nói chung, thật lòng khao khát được nhiều người cầu nguyện cho chức vụ của mình. Đó là một dấu hiệu rất tốt cho Hội thánh ở Việt Nam.

Đà nẵng – Huế. 

Rời Nha-trang chúng tôi ra Đà-nẵng bằng đường hàng không. Đà nẵng được xem là một thành phố tân tiến nhất. Từ nội dung lẫn hình thức hấp dẫn du khách đến đây. Tỉnh Quảng Đà cũng là nơi có nhiều Hội thánh nhất. Vì đi theo đoàn du lịch cho nên chúng tôi không có dịp viếng thăm các tôi tớ Chúa và Hội thánh tại đây. Đoàn du lịch đưa chúng tôi tham quan Ngũ Hành Sơn là Hòn Non Nước mà hơn 50 năm về trước tôi theo học Trường Kinh Thánh năm cuối cùng ở Đà nẵng trước khi thiên di vào Nha-trang, chúng tôi thường đi chứng đạo vùng này. Thành phố Hội-An hấp dẫn chúng tôi với những cảnh đẹp của Phố Cổ, Cửa Đại và ăn Cao-Lâu. Tôi thích các đèn lồng thấp sáng dọc theo đường phố vào lúc ban đêm như đang mừng đón lễ hội nào đó. Nghe kể là du khách có thể tốn $50 Mỹ kim để đi làm “nông” một ngày như làm việc đồng áng: chăn trâu, cấy lúa ngoài đồng. Nghe đâu du khác Nhật bản rất thích môn giải trí này.

Ra Huế chúng tôi thăm viếng đền đài lăng tẩm các vua Chúa triều Nguyễn, lăng vua Tự Đức cùng với  cấu trúc giống như  khuôn mẫu của Trung Quốc. Văn hóa và kiến trúc của hai nước Việt Hoa ảnh hưởng sâu đậm trong mọi tầng lớp sinh hoạt của hai dân tộc.

Đoàn tham quan chúng tôi được dịp dạo thuyền dòng sông Hương,  nghe hát chèo hát đối: Một trong bài hát là “Nón Bài Thơ” như sau: ‘Ơ hò ơi!. Ngược dòng sông Hương lên chùa Thiên Mụ. Chèo về Kim Luông về Vĩ Dạ qua Đông Ba. Trai gái gần xa ghé qua cầu Gia Hội. Nắng vàng lên rồi nhớ chiếc nón bài thơ”. Hay bài “Ai ra xưa Huế thì ra, Ai về là về núi Ngự, Ai về là về sông Hương”.

Huế đẹp có sông Hương, núi Ngự nhưng không thể thiếu các cây cầu nổi tiếng nối liền các khu nam bắc đông tây của kinh thành như Cầu Trường Tiền, cầu Phú Xuân, cầu Vĩ Dạ giăng mắc đèn sáng phản chiếu lung linh vào buổi tối tạo nên khung cảnh hữu tình của cố đô này.

Sau đó, chúng tôi lên đường đi ra vùng giới tuyến mà ngày xưa chỉ nghe mà chưa bao giờ dám mơ ước đến thăm. Đó là cầu Hiền Lương và dòng sông Bến Hải tại vĩ tuyến 17, tỉnh Quảng Trị. Chúng tôi đi lêncầu. Chụp vài ảnh lưu niệm và viếng một bảo tàng viện và trụ cờ cao ngất tại đó. Đây là điểm cắt chia hai Miền Nam Bắc gần 20 năm ngăn cách bằng hai câu thơ: “Cách một con sông mà đó tương đây nhớ. Chung một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa.”

Chúng tôi lại lên đường đi ra Quảng Bình để viếng thăm một khám phá gần đây là Động Thiên Đường. Đây là một khám phá làm choáng ngộp khách du lịch do một người tên Hồ Khanh rồi sau đó hướng dẫn đòan thám hiểm người Anh tìm ra một không gian huyền ảo chiều dài đến 31.4km mà nay chỉ có thểxem khoảng 1/10 của chiều dài này. Chúng tôi thật sự ấn tượng với những cây thạch nhủ lớn nối liền đáy với vòm động tạo thành những hình hài vô cùng ngoạn mục. Dù đã có dịp viếng các thạch động như Crystal Cave ở vùng Virginia, chúng phải công nhân đây là di sản của Chúa ban cho đất nước Việt Nam ta mà cảnh trí phản ảnh phần nào vẻ đẹp rực rỡ của Thiên đàng.

Chúng tôi về lại Huế gọi thăm Mục sư Nguyễn Hữu Thượng Thanh và Đà nẵng gọi thăm Cụ Mục sư Dương Thạnh, song chỉ tiếp chuyện được với người con gái của Cụ thôi. Rất tiếc là đi theo đoàn tham quan cho nên không thể viếng thăm các tôi tớ Chúa trong vùng này được.

Về lại Miền Nam.

Chúng tôi bay về Saigon vào tối Thứ Bảy 17/8/13 để rồi lên xe về ngay Vĩnh Long vì Mục sư Võ Minh Tâm đã mời giảng vào Chúa nhật hôm sau. Ông Bà Mục sư sắp đặt mọi việc thật chu-đáo và tiếp đoán niềm nở, ân cần. Dù xe về quá nửa đêm Thứ bảy, ông vẫn chờ và bà dọn sẵn thức ăn nhẹ, thơm ngon thết đãi chúng tôi. Chúng tôi thật cảm kích tình người hầu việc Chúa của tôi tớ Ngài. Tạ ơn Chúa ban cho chúng tôi hầu việc Chúa sáng Chúa nhật vui vẻ phước hạnh. Tôi có nhắc lại địa điểm Hội thánh Vĩnh Long này là nơi tôi đã gặp nhà tôi lần đầu tiên trong kỳ học Tiểu Học Đường vào năm 1958!

Dạo đó Thanh niên Hội thánh Cần thơ rất đông theo học Tiểu học đường. Kể ra ban Thanh niên chúng tôi là “nổi nhất” đám. Nhà tôi thì thuộc Hội thánh Da-lat. Sở đĩ “chạy” xuống Vĩnh long học thay vì ra Nha-trang là vì ông Nguyễn văn  Nhung,là  cậu ruột của  nhà tôi đang làm “Tư hóa” và nhà ở ngay trong khuôn viên của nhà thờ Vĩnh long. Với các cô gái má hồng, xinh đẹp của thành phố ngàn thông đã khiến cho thanh niên của các Hội thánh Miền Nam đặc biệt chú ý. Và từ đó chúng tôi quen nhau và làm bạn đời hơn 50 năm nay. Về thấy lại cảnh cũ đi quanh lối xưa, chúng tôi thấy đã đổi thay quá nhiều. Nhà thờ thay đổi rất đẹp. Tư thất vẫn giữ khả quan. Tuy nhiên phía sau là bờ sông đã bị dòng nước lấn chiếm mất đi một phần đất lớn. Những ngôi xưa  nhà quá cũ vẫn còn sừng sững như đang chờ một sự lột xác!

Trưa Chúa nhật đó chúng tôi lên xe qua Cần-thơ để thăm gia đình. Hơn hai năm rồi  chúng tôi mới được dịp trở lại với bao kỹ niệm của thời thanh xuân. Cần thơ ngày nay được lên hàng đô thị như thành phố Đà nẵng cho nên có những tòa nhà cao, đường lộ tốt nhất là cái cầu mới bắt ngang qua dòng sông Hậu rất tân kỳ và thuận lợi cho việc lưu thông mà các xe đi xuống Sóc trăng, Bạc liêu hay Cà-mau không phải chạy qua trung tâm thành phố. Chuá cho Ba tôi năm nay được 101 tuổi! Thể xác tương đối khoẻ, có thể đi lại tự lo cho mình, tuy nhiên trí não bị bệnh lãng quên cho nên dù tươi vui khi gặp lại chúng tôi nhưng không biết có nhớ được bao nhiêu trong ký ức. Điều khiến chúng tôi cảm động là lúc cầu nguyện giả từ ông Cụ, chúng tôi cho biết chúng tôi sẽ đi rất xa, có thể rất lâu mới gặp Cụ lại thì Ba tôi rơm rớm nước mắt! Có lẽ Ba tôi hiểu một phần nào thôi.

Trong thời gian lưu lại đây chúng tôi có đi ngang qua nhà thờ đang trên tiến trình xây cất, thăm được ông bà Cụ Mục sư Trí sự Nguyễn văn Tôi và Bà Quả Phụ Mục sư Lư Hồng Sơn. Trong lúc tham quan các công viên, bến Ninh Kiều và Chợ Nổi trên sông Cái-Răng, chúng tôi đã chia xẻ niềm tin và có ba người tiếp nhận Chúa. Thật sung sướng khi chúng tôi thấy người dân miền này mở lòng đón nhận ơn cứu rỗi cách thành tâm.

Về lại Saigon.

Sau đó, trên đường trở lên Saigon, chúng tôi ghé thăm gia đình của người cháu gọi tôi bằng Cậu. Đây là lần đầu tiên chúng tôi khám phá mối liên hệ với mẹ cháu vì cách nay mười mấy năm, tôi có dịp giúp đỡ tiền cho bà mổ tim. Hồi đó, tôi chỉ nhớ mang máng đã gửi một số tiền giúp đỡ cho người bà con bên nội  nhưng không rõ lắm về mối liên hệ như thể nào. Nay có dịp được Mục sư Võ Minh Tâm tạo cơ hội gặp gỡ vào ngày Chúa nhật tuần trước, cho nên giờ đây vợ chồng người con gái của bà tha thiết mời chúng tôi ghé ăn trưa trước khi tiếp tục lên đi Saigon. Hơn nữa, người lái xe đưa chúng tôi chính là con trai của gia đình, cho nên việc viến thăm rất thuận tiện.

Trong cuộc hàn huyên thân mật đàm đà tình cảm, chúng tôi biết rõ người chồng của người cháu đã từng sang Hoa Kỳ học Khóa Ngắn Hạn tại Thánh Kinh Thần Học Viện và đã ra Hà-nội tham dự Lễ Tốt Nghiệp vừa qua. Vì thế mối liên hệ trở nên thú vị và khắn khít.

Chúng tôi đến Saigon lưu trú tại nhà ông bà Bác sĩ Nguyễn Đức Long ở Thủ Đức, là cha mẹ của Truyền Đạo Nguyễn Kinh Luân phục vụ tại Hội Thánh Midway City và Thần Học Viện. Ông bà thường qua thăm Hoa Kỳ cho nên đã trở nên thân tình với chúng tôi. Vả lại, Mục sư Quản nhiệm Hội thánh Thủ Đức mời chúng tôi viếng thăm và giảng tại đó.

Tạ ơn Chúa cho chúng tôi có dịp lưu lại tại vùng Saigon chỉ một cuối tuần, tuy nhiên có dịp viếng thăm đến năm địa điểm! Tôi giảng hai nơi là Hội thánh Thủ Đức và Hội thánh Bình Trị Đông và viếng thăm ba địa điểm sinh hoạt khác trong vòn gmột ngày! Chúa ban cho Hội thánh Thủ Đức rất vui và phát triển, có thêm các Hội thánh nhánh. Mục sư Hiên đã từng sang Hoa Kỳ theo học Khóa Ngắn Hạn tại Anaheim cho nên chúng tôi trở nên thân tình với nhau. Lễ thờ phượng sáng Chúa nhật xong, Mục sư và Ban Chấp Hành thết đãi chúng tôi một bữa thịnh soạn tại nhà hàng có cả sự hiện diện của Mục sư PHT Ngô văn Bửu tham dự vui vẻ. Sau đó TĐ Nguyễn Sơn Hà đưa chúng đi thăm vùng Đồng Nai là nơi có các em dân tộc làm việc cho hảng làm giày Nike do người Hàn quốc thầu của người nước ngoài.

Gặp thăm các em đang họp nhau học Lời Chúa quan Chương Trình Cuộc Đời Chúa Cứu Thế mà năm 1992, tôi đã mang vào Việt Nam trong chuyến thăm quê hương lần đầu. Tôi không ngờ Chúa đã xử dụng chương trình này đào tạo biết bao người đang phục vụ trong chức vụ chăn bầy tại quê hương từ Bắc chí Nam! Tôi thấy khoảng 25 em ngồi dưới sàn trong một phòng nhỏ không bàn không ghế, vào buổi trưa Hè nóng bức. Nét mặt vui tươi của các em khi gặp chúng tôi. Gương mặt rạng rỡ hồng hào phản ảnh người tín đồ thật của Chúa. Lòng tôi cảm động và vui sướng vô cùng vì nhớ lại những ngày chúng tôi hầu việc Chúa tại Trung Tâm Truyền giáo Dalat trong thập niên ’60. Sau khi ngồi bệt xuống sàn nhà chụp một ảnh lưu niệm với các em, chúng tôi đến một địa điểm có miếng đất mua được cho Hội thánh. Nơi đây tôi gặp Cô Thanh Nga là vợ Thầy Truyền Đạo cũng là người cháu gọi tôi bằng chú. Cô Thanh Nga đã từng theo học Chương Trình của Thánh Kinh Thần Học Viện tại Bangkok, Thái Lan khi kia. Giờ đây Cô đang dạy các Trưởng nhóm về phương pháp lãnh đạo để các em này có thể biết cách điều hành các nhóm nhỏ. Dù là nhóm nhỏ nhưng số người họp nhau hàng tuần và học Kinh thánh từ vài mươi em đến bốn năm mươi em! Thầy TĐ Hà cho biết thầy tổ chức được 12 nhóm sinh hoạt giống như 12 Hội thánh. Mỗi nhóm có Ban Trị sự điều hành sinh hoạt thờ phượng để sau này có thể trở nên 12 Hội thánh khi được Tổng Liên chấp thuận. Tinh thần hầu việc Chúa của Thầy Cô thật đáng khen.

Sau khi viếng thăm Thầy đưa tôi đến Hội thánh Bình Trị Đông nơi đây Mục sư Lê văn Tính đang chờ tôi đến giảng buổi thờ phượng chiếu Chúa nhật hôm đó. Dù hai nơi cách nhau không xa lắm nhưng giao thông đông đúc nên cũng mất khá nhiều thì giờ.

Gặp lại ông bà Mục sư Quản nhiệm Hội thánh chúng tôi rất vui và cảm động vì chúng tôi quen biết nhau hơn 50 năm từ lúc học Tiểu Học Đường Vĩnh Long. Ông bà thuộc Ban Thanh niên Vĩnh long còn chúng tôi ở Cần thơ cho nên tình láng diềng vẫn còn sâu đậm trong ký ức. Nhà thờ khang trang dù khuôn viên hơi hẹp. Đất ở thành phố đều quý như thế. Ông bà Mục sư sắp xếp cho chúng tôi dùng cơm chiều tại nhà Cô Trần Thị Lý, một sinh viên tốt nghiêp hậu Đại học ở Úc Châu để chúng tôi có dịp gặp gỡ trao đổi nhau về sự hầu việc Chúa.

Dù lễ thờ phượng buổi tối Chúa cho tín hữu nhóm lại đông đúc. Chương trình thờ phượng qui củ và phước hạnh. Có một người cầu nguyện tiếp nhận Chúa sau giờ giảng luận cũng như tại nhà thờ Thủ Đức buổi sáng. Tôi có dịp gặp lại một số tín hữu đã từng quen biết chúng tôi, hàn huyên, nhắc lại kỷ niệm ngày xưa, lòng chúng tôi tràn ngập niềm vui trong cơ hội hiếm có này.

Trên đường về lại Thủ Đức để hôm sau lên đường trở về Mỹ, Mục sư NC Phan Bửu Sơn là người cháu  gọi tôi bằng cậu, đang chờ để đưa tôi đến thăm nhà thờ mà cháu đang hầu việc Chúa ở gần đó. Sau khi viếng thăm cơ sở nhà Chúa và biết được hy vọng có thể dời đến một địa điểm rộng rãi hơn, chúng tôi cầu nguyện cho chức vụ của Hai cháu. Sau đó chúng tôi mới lên đường về Thủ Đức. Lúc đó là 11 giờ đêm rồi!

Tạ ơn Chúa ban cho chúng tôi một ngày Chúa nhật thật phước hạnh dù phải “đi” nhiều nơi, gặp nhiều người và được bình an trong các bước đường.

Chúng tôi xin ghi lại hồi ký của chuyến đi này để bày tỏ lòng cảm tạ Chúa đã cho phép chúng tôi về thăm quê hương và công việc Chúa và cũng tri-ân tất cả quý tôi con Chúa và thân nhân đã tiếp đón chúng tôi cách nhiệt thành từ Bắc chí Nam trong khoảng thời gian 40 ngày đêm đáng ghi nhớ này. Cầu xin Chúa ban sức mới để chúng ta tiếp tục tiến bước trên linh trình cho đến khi hoàn tất công việc Chúa giao.

Mục sư Nguyễn Anh Tài.